Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 21 tháng 9, 2021

Trung Thu Buồn


Bây giờ thành phố bên NM là tối 21 tháng 9, nơi quê nhà là sáng ngày 22, mọi người đã đón xong Tết Trung Thu năm 2021. Một mùa Trung Thu buồn hơn bao giờ!
 
Những năm trước đây, khi gần đến mùa Trung Thu các siêu thị Á Châu bày bán nhiều loại bánh trung thu được nhập từ China và Đài Loan, nhưng riêng các tiệm bánh ngọt thì bánh được làm tại tiệm nên thơm ngon hơn nhiều! Năm nay  ông xã mua vài hộp bánh từ Costco, bánh được nhập từ Đài Loan, hộp bánh trông rất đẹp mắt nhưng không ngon bằng bánh Hải Ký ở Vĩnh Long mình.
 
Nhớ lại ngày xa … rất xa, khi còn là “nữ sinh” của trường Mẫu Giáo và  trường Tiểu Học,  mỗi mùa Trung Thu  thì Ba  mua lồng đèn cho hai chị em để vui chơi trong đêm Trung Thu cùng bạn trong xóm. Sau khi Ba mất thì chị Hai dẫn mình và em út đi xuống chợ Vĩnh Long mua, mình nhớ là một trong những cửa hàng cùng một dãy phố với tiệm giày Bata. Thời đó mình thích nhất là lồng đèn con bướm vì Ba thích hai chị em hát và múa bài “Kìa Con Bướm Vàng” mỗi khi Ba có bạn đến nhà chơi! Tuổi thơ tuy đã qua nhưng kỷ niệm đẹp vẫn còn mãi trong tiềm thức .
 
Mùa hè năm trước có cô bạn ghé lại nhà cho một chậu cây lá cẩm, may mắn cây ra nhiều lá đủ để nấu một nồi xôi nếp! Cô em út khéo tay làm món “Xôi Nếp Đậu Xanh Lá Cẩm”, sau khi nấu xong  thì em cho vào khuôn bánh trung thu, thành phẩm trông rất đẹp mắt, vị ngọt vừa và thơm.
 
Hôm nay NM đăng lại hình cho các bạn cùng thưởng thức món “Xôi Lá Cẩm” thế bánh trung thu.
 
Như Mai
Mùa Trung Thu Buồn 2021





Thứ Ba, 3 tháng 12, 2019

Nhớ Mùa Nắng Ấm



Theo ông Google trên web thì mùa đông 2019 ở Canada chính thức là ngày 21 tháng mười hai, hôm nay là ngày đầu của tháng mười hai nhưng ngoài trời hết mưa thì lại tuyết.

Buổi sáng mưa lạnh (freezing rain) cho đến trưa thì tuyết rơi mù mịt với những cơn gió đông kéo dài đến gần sáng hôm sau. Tuy nhiệt độ chỉ là - 3° C  nhưng rât lạnh! Cái lạnh của mùa đông nơi đây làm cho tôi ngán ngẫm, nhất là những ngày đi làm trong bão tuyết.

Cũng như mỗi mùa đông, tôi thường ao ước được sớm ngày nghỉ hưu để ở nhà trốn lạnh, nhưng chờ và chờ mài …. ! Sự chờ đợi của ngày nầy làm tôi cảm thấy thời gian trôi qua chậm chạp hơn!

Mùa đông Canada kéo dài đến trung tuần tháng ba, nhưng từ ngày tôi định cư nơi xứ nầy dường như năm nào tuyết vẫn rơi và lạnh đông kéo dài đến cuối tháng tư. Thời tiết ấm áp nhất là trung tuần tháng sáu đến tháng tháng chín. Thời gian “vui thú điền viên” của chúng tôi không đầy 4 tháng.




Bước vào đầu tháng năm thì hai chị em tôi bắt đầu gieo hạt giống, nào là cà chua, khổ qua, nào là ớt hiểm và hột mồng tơi, nhưng rau quế, ngò ai và hành lá thì mua ở siêu thị, sau khi lặt rau, tôi thường giữ lại cọng và ngâm trong nước cho ra rễ, đầu tháng sáu thì mang ra vườn trồng. Thường mỗi năm, tôi mua thêm vài dây dưa leo được các nhà trồng cây gieo sẳn hột và được bày bán trong các tiệm vào đầu mùa xuân.

Niềm vui và hạnh phúc của các nhà nông là mùa thu hoạch, tôi cũng không ngoại lệ! Tuy mảnh vườn nhỏ nhưng mang đến cho tôi niềm vui không nhỏ sau những giờ làm việc mệt mỏi.

Mỗi sáng trước khi đi làm và chiều sau khi tan sở trong những ngày không mưa, tôi thường dạo quanh vườn một vòng, ngắm các đóa hoa tươi muôn sắc nở trong vườn, nhìn những bụi rau chen chút lá xanh, những trái khổ qua và dưa leo lớn dần và treo lủng lẳng trên những nhánh yếu ớt, dây mồng tơi leo hàng rào với những chiếc lá tím chen lá xanh, cây ớt hiểm ra thật nhiều trái, những quà cà chua từ màu xanh non chuyển sang màu đỏ mọng, … nhìn thấy mà thương! Nhưng rồi cũng bị tôi lần lượt hái xuống để nấu thành những món ăn quê hương cho gia đình.



Tô canh mồng tơi gợi nhớ hương vị nơi quê nhà, nồi canh khổ qua dồn tôm thịt (bên nhà thì dồn cá thác lác), tô phở thơm phức với mùi rau quế, ngò gai và hành lá, bên cạnh những dĩa bánh xèo là dĩa rau xanh đủ loại, những tô bún riêu với nhiều cà chua đỏ hấp dẫn, dĩa khổ qua xào nhiều màu sắc, dĩa nước chấm với mùi ớt hiểm cay nồng, vv …

Ông xã tôi thường cười và nói vói hai chị em tôi là “Tiền mua rau trong siêu thị còn rẻ hơn tiền nước tưới cây!”. Tuy biết thế nhưng tôi thấy hương vị của những món ăn được nấu từ rau quả trong vườn mình thì thơm ngon hơn nhiều!



Bây giờ đã bước vào đông, nhìn cây cherry tuyết trắng bám cành làm tôi chạnh lòng nhớ đến cây cherry say trái trong năm 2018.  Mùa xuân năm nay hoa nở đầy cành, màu hoa trắng làm đẹp một góc vườn nhưng sau những trận mưa “vô thường” đã làm hoa úa và rơi rụng! Kết quả là năm nay chúng tôi không được một trái cherry nào! Đành phải ra siêu thị mua về ăn. 




Tôi nhớ đến cây mận được tôi trồng cách đây hơn 15 năm, những năm đầu rất say trái, mận ngọt nên bị nhiều đàn kiến nối tiếp bò lên cây, dần dần cây bị hư nên ông xã tôi chặt bỏ. Vì rể cây rất sâu nên không thê nào đào được tận gốc, chúng tôi đành phải lấp đất lại. Tôi thật vui mừng khi thấy cây đâm chồi sau nhiều năm im lìm , cành ra lá sum sê, mãi đến mùa hè 2018 thì đơm hoa kết trái. Vì mùa hè năm nầy mưa gió nhiều nên trên cây chỉ còn vỏn vẹn 1 trái, da màu đỏ trông rất đẹp mắt!

Ngày nào tôi cũng ra thăm và thì thầm cùng cây, hy vọng là mình sẽ được thưởng thức trái mận ngon giòn! Một buổi chiều sau khi tan sở về, tôi ra thăm cây như thường lệ, có ý định hái xuống, nhưng khi nhìn lên cây thì trái mận biến mất! Tôi tìm dưới gốc cây thì thấy chỉ còn1/3 trái bị ăn dở. Tôi đoán biết ngay kẻ hái trộm trái mận của tôi là ai! Đó là một trong những chú sóc trốn trong một góc vườn nhà tôi hoặc của bà hàng xóm, các chú thường bị chúng tôi bắt gặp khi chúng leo rào để rình rập cây quả sau vườn của hai bên nhà.

Mùa hè năm nay cây mận cho ra nhiều trái hơn năm trước, nhưng sau trận bão cuối tháng tám, thì nhánh cây chính bị gãy ngang, nhìn thấy mà đau lòng! Cũng may còn lại 1 nhánh nhỏ, chúng tôi cố gắng dưỡng lại bằng cách thêm đất và làm cột tứ phía.  

  


Trong vườn tôi, đặc biệt là cây black berries (bên Việt Nam mình goi là cây dâu tầm ăn), cây nầy đã cho tôi nhiều kỷ niệm với một người! Mỗi năm, khi nhìn cây đơm hoa kết trái làm tôi ngậm ngùi nhớ đến ông Warner, một người bạn chung sở. Ông là người Đức, đến định cư Canada sau khi Đệ nhị thế chiến chấm dứt. Ông là người hiền hòa, vui tính, suốt ngày không nghe ông hát thì tôi lai nghe ông huýt sáo nho nhỏ. Thỉnh thoảng ông kể tôi nghe thời ông còn trẻ, đời sống khổ cực khi còn ở với cha mẹ nơi vùng nông thôn nước Đức. Ông kể đến những năm ông và vợ lập nghiệp ở Canada, những ngày ông bắt đầu làm nghề may đồ vest cho phái nam trong một tiêm may nổi tiếng ở Toronto, sau một thời gian thì ông chuyển qua làm văn phòng.

Có lẽ  tôi là người chịu lắng nghe ông kể chuyện về những kỷ niệm vui buồn trong quá khứ và hiện tại nên một mùa hè đẹp trời ông mang tặng tôi vài nhánh black berries để trồng. Cây được ông cẩn thận gói vào trong bao, kèm theo là những lời dặn cách chăm sóc cây. Tôi làm việc chung với ông được khoảng hai năm thì ông về hưu, mùa hè năm sau thì tôi được tìn ông qua đời. Người đã ra đi, nhưng cây black berries vẫn còn trong vườn nhà, tính đến nay cũng hơn mười sáu năm .

Bây giờ ngồi bên song lạnh,  nhìn mảnh vườn mênh mông tuyết trắng, tôi lại nghĩ đến Lễ Giáng Sinh cận kề,  rồi đến ngày gở xuống tờ lịch cuối để kết thúc năm 2019 . Thời gian lặng lẽ qua đi, buồn vui trong mùa xuân hạ và thu giờ đây chỉ còn là kỷ niệm của những ngày nắng ấm trong năm.

Như Mai
01.12.2019



Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2019

Du Lịch Hokkaido - Japan (Phần 1)




Mỗi hai năm Cựu Du Học Sinh – Japan tổ chức Hội Ngộ Exryu, tùy theo bắt thăm để tổ chức ở quốc gia nào . Có năm ở Japan, Canada, Việt Nam, US, Úc và Pháp.

Lần nầy Hội Ngộ được tổ chức tại Japan vào tháng 10 năm nay.  Vì số CHS khá đông từ khắp nơi về Japan tham dự nên ban tổ chức chia ra làm 2 tours. Tour I hội ngộ tại Hokkaido, sẽ tham quan thắng cảnh trong 8 ngày, khởi hành từ ngày 15 tháng 10, bus tour sẽ  từ Sapporo – Asakihawa – Akanko – Shiretoko – Toykako – điểm cuối là thành phố Hakodate – Hokkaido, tour kết thúc ngày 22 tháng 10 . Tour II sẽ khởi hành từ ngày 23 tháng 10, bus tour sẽ từ Hakodate – tham quan các thắng cảnh ở Tohoku, tour kết thúc tại  Tokyo ngày 30 tháng 10 .
  
Vì việc làm bận rộn vào cuối tháng nên chúng tôi phải trở lại sở làm ngày 24 tháng 10 vì thế chúng tôi chỉ tham dự được Tour I. Theo kế hoạch chúng tôi rời Toronto - Canada vào ngày 12 tháng 10, đến Tokyo trưa ngày 13 dạo phố quanh khách sạn. ngày 14 thì đi tham quan Tokyo, sáng ngày 15 sẽ lấy chuyến bay nội địa đến phi trường Shin-Chitos – Sapporo.

Ngày 11 tháng 10 thì tin tức khắp nơi trên thế giới thông báo cơn bão Hagibis đến Tokyo ngày 12 tháng 10. Theo dõi tin tức thì tôi được biết cơn bào nầy trở lại Japan sau 60 mươi năm, tuy biết thế nhưng chúng tôi vẫn khởi hành theo đúng lịch trình. Ngày 12 thì ba người ra phi trường, làm thủ tục check- in xong xuôi chúng tôi ngồi đợi ở cổng (Gate), trước 30 phút lên máy bay thì loa thông báo chuyến bay bị cancel vì bão nên phi trường Tokyo đóng cửa trong 2 ngày. Air Canada cho hành khách chúng tôi hai lựa chọn, một là lấy lại trọn tiền vé, hai là dời chuyến bay vào ngày khác . Vừa bị sốc,  vừa bị stess và đói bụng trong khi chờ đợi làm thủ thục để lấy hành lý, khi trở vè đến nhà thì chúng tôi đều mệt nhoài nên tìm tiệm phở gần nhà  để  ăn tạm .  Cùng trong chiều ông xã tôi liên lạc với Air Canada, chờ đợi hơn 2 tiếng trên phone, cuối cùng họ tìm được chuyến bay cho ngày kế tiếp là ngày 13 tháng 10 nhưng phải quá cảnh đến phi trường Seattle (US) – Hong Kong rồi đến phi trường Shin Chitose – Sapporo (Japan). Chúng tôi không còn lựa chọn nào hơn!  





Cuối cùng ngày 15 chúng tôi cũng đến nơi! Tính tổng cộng là 22 tiếng ngồi trên máy bay và 12 tiếng chờ đợi, đến nơi thì ai cũng mệt mỏi!  Tại phi trường có hai em hướng dẫn viên du lịch chờ đón  chúng tôi và các anh chị đáp chuyến bay cùng ngày, sau đó ban tổ chức cho người đưa chúng tôi về khách sạn Premier Hotel Tsubaki – Sapporo để nghỉ ngơi! Rất tiếc là chúng tôi bị lỡ chuyến tham quan Kênh đào Otaru trong ngày thứ nhất .

Hình ảnh: Phi trường Shin Chitos - Sapporo

Như Mai
31.10.2019

(Còn tiếp)



Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2019

Nói Chuyện Với Người Tình Không Chân Dung



















Hỡi Người !

Lâu lắm rồi ! vâng, đã lâu lắm rồi tôi chưa nói được với ai điều tôi muốn nói tận đáy lòng mình. Thời gian im lặng ấy là những tháng ngày tôi ngồi nghiệm trải lại sự đời, ngồi nghỉ chân trên đường đi "đãi cát tìm vàng" đó Người !

Như Người cũng biết đấy, chẳng ai chọn sẵn được chỗ cho mình sinh ra, và cũng không ai có thể sắp xếp số phận theo ý mình được. Bởi thế, sự đời cứ nói mãi mà chẳng hết - chẳng chịu hết. Mà hết làm sao được khi mỗi chúng ta, hay nói đúng hơn phần lớn con người trên thế gian nầy có thấy được "mình" và thấy được "người" đâu; mấy khi nhìn "người" mà đau lòng "mình"? Vì lẽ ấy, sự đời cứ mãi là sự đời...mãi nổi trôi...mãi trăn trở...khôn nguôi.

Người ơi ! tôi đi vào cái " thế giới kết bạn bốn phương" nầy do một bốc đồng, hay nói đúng hơn bởi một sự hụt hẫng cao độ, mọi chuyện cứ nghĩ đơn giản nhưng thực tế lại chẳng đơn giản tí nào.

Tôi như một người mù, lần tìm hướng đi "đãi cát tìm vàng" , hành trang mang theo là một nỗi đau bất tận , càng đi hành trang càng nặng thêm lên , không cách chi rủ bỏ bớt được. Cứ càng đi càng thấy rõ cốt lõi của cuộc đời, và không hiểu vô tình hay cố ý, cuộc đời đã biến tôi thành một món hàng được bày bán ở "chợ đời”, rồi kẻ đến lựa chọn, người đi chê bai, bởi tôi không phải là món đồ cổ quý hiếm mà người đời cần tìm. Tôi bị người ta lật qua, lật lại, nâng lên, thả xuống không biết bao nhiêu lần trong sự lựa chọn khắc khe đến ghê sợ !

Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn đang nằm lăn lóc trên tập giấy báo Phụ Nữ (*) được trải ra ở "chợ đời" thật xô bồ và nhiều màu sắc , những màu sắc dịu mát đầy xảo thuật...(?)

Tôi - tuy là kẻ bạc phước, chuyện lứa đôi đã mang tàn tích đầy người, nhưng dẫu sao, từ vạch xuất phát tôi vẫn là người chủ động, nay lại trở thành kẻ bị động. Và...cứ đu đưa mãi trong vòng tròn đời sống "Kết Bạn Bốn Phương" như đang chơi trò rủi may trong sòng bạc. Mà được rủi may thì cũng đã quý , tệ hơn thế, lại bị chao đảo trong sự gian lận, bởi sòng bạc nào mà không có sự gian lận ?

  Mãi đền hôm nay tôi mới thấy được mình - một anh chàng ngây ngô, khờ khạo cứ nhìn "lòng mình" mà đi tìm kiếm "lòng người",tìm đâu cho ra ? Nhiều lúc tôi thèm được như Từ Hải, muốn chôn chân chết đứng giữa trời mà cũng chẳng được. Dẫu sao, Từ Hải vẫn còn diễm phúc có được tấm chân tình từ Thúy Kiều, còn tôi, suốt cả đời vẫn gập ghềnh nổi trôi theo số phận hẩm hiu, bạc phước đến thế là cùng !

Người ơi ! giá như những cơn giông bão trước đây đã từng vùi dập cuộc đời tôi, làm đông cứng lại những tế bào vốn hằng nuôi sống trái tim tôi , để chẳng bao giờ tôi còn biết yêu, biết nhớ, biết cô đơn khi trời đêm trở gió, thì hay biết mấy, yên phận cho tôi biết mấy ! Ác thay, thời gian vẫn cứ trôi... máu vẫn chảy...trái tim vẫn cứ gõ nhịp...và tôi lại cảm thấy hụt hẫng, thiếu vắng một thứ gì đó trong tâm hồn mình.

Hơn lúc nào hết, tôi đang khát khao một bàn tay để nắm - một cánh tay để vịn - một trái tim biết lắng nghe và thấu hiểu - một tấm lòng rộng rãi sớt chia. Cuộc đời "mộng" cứ dẫn tôi đi và cuộc đời "thực" lại kéo tôi về, cứ thế giằng co nhau mãi nên đời tôi buồn như sợi tóc. Vâng, buồn như sợi tóc, nó cứ mãi dài ra theo năm tháng, có muốn cắt bỏ đi cũng chẳng được, bởi nó đã trở thành một phần máu thịt của tôi rồi. Thời gian thì cứ vô tình trôi đi mang theo biết bao ước mộng không thành, còn lại đây chỉ là một nỗi khát khao bình dị vẫn đang cháy bỏng trong lòng, và có lẽ sẽ theo tôi về một kiếp khác. Từng người tình chợt đến rồi chợt đi - lúc gần - lúc xa - lúc ẩn - lúc hiện - có đó - mất đó - tựa như những vì sao băng trong bầu trời đêm u tịch, để lại đằng sau những bụi lửa làm rát bỏng cả đời tôi. Chẳng có nỗi đau nào giống nỗi đau nào, mỗi nỗi đau đều mang một dáng vóc khác nhau; nhưng tất cả đã un đúc thành một nỗi đau bất tận...Mọi thứ cần có thì lụi tàn dần, chỉ có nỗi đau là chất ngất...

Tôi giờ đây trở về, đang ngơ ngác ở cuối đường với đôi bàn tay trắng, chẳng còn gì ngoài cái xác thân rã rượi, ê chề... Còn chăng chỉ là những bài văn đang viết dang dở chưa có đoạn kết - những tranh vẽ chưa tìm ra sắc màu để trám kín lỗ hổng cuộc đời - những dòng nhạc chưa đủ thanh âm để viết thành giai kết trọn. Mọi thứ đều dang dở...dở dang...

Đường đời có trăm vạn nẻo, nơi đâu cũng thấy chim, hoa, lá cỏ thánh thót ngọt ngào. Ấy thế mà một ước mơ nhỏ nhoi, bình dị cũng chẳng tìm đâu ra được : một hạt gạo cắn đôi - một chiếc thuyền nan đỗ bến - một bếp lửa khói chiều ấm áp liếp tre thưa. Cái "cõi tan hoang" đời tôi vẫn còn là cái "cõi tan hoang" với ngổn ngang trăm nghìn mảnh vỡ. Bốn bề thì vẫn nghe xôn xao nắng gọi hoa chào, nhưng tận sâu đáy lòng người vẫn bất động, bất can. Chẳng bao giờ có sự cảm thông hoàn toàn giữa người đi bộ và kẻ ngồi trên xe hơi bóng lộn, chỉ một làn khói xe tạt nhẹ qua người đi bộ cũng đủ làm cho họ cảm thức sâu xa về thân phận của mình . Làn khói bay đi và tỏa mất trong không gian , mất trong thiên hạ , nhưng còn đọng lại gì ở người đi bộ ? mấy ai mà biết được ! Sự cảm thông nào cũng có một giới hạn nhất định của nó, nhưng điều tế nhị, nhạy cảm đối với kẻ bần cùng thì lại đòi hỏi sự uyển chuyển - uyển chuyển từ tấm lòng. Cái kiểu cách đi ngang qua đường tỏ vài cử chỉ ban phát vụng về chỉ còn đào sâu thêm sự cách ngăn mà thôi. Hãy cảm thông nhau bằng những nỗ lực chia sẻ thực sự cuộc đời của nhau. Hãy cùng nhau sóng bước để cùng thấy con đường phía trước còn bao xa ? Chông gai, hầm hố nào cùng nhau sẽ phải vượt qua ? Có thế mới gọi là " một nửa của nhau". Bởi, chỉ có thuyền mới hiểu biển mênh mông nhường nào, và chỉ có biển mới biết thuyền đi đâu, về đâu. (Xuân Quỳnh) Giá trị tinh thần đích thực là ở chỗ nầy.

Người ơi ! nếu con sóng định mệnh nào xô giạt Người đến với tôi, thì xin Người đừng ngọt ngào hứa hẹn một điều gì , tôi quá sợ những lời hứa hẹn đầu môi lắm rồi , những lời hứa hẹn suýt đẩy tôi xuống vực thẳm. Chỉ xin Người cùng tôi góp nhặt lại những mảnh vỡ đời tôi ,đem về che chắn lại cái "cõi tan hoang" của tôi, để may ra tôi còn nơi trú ngụ trong những ngày giông bão đầy trời sắp tới. Xin Người chút lửa khi tắt đèn, bởi "cõi tan hoang" của tôi đâu còn vách che chắn khi trời đêm trở gió. Xin Người hãy đến với tôi bằng trái tim yêu thương nhân hậu, bằng nghĩa cử sớt chia - sự sớt chia bằng hạt gạo cắn đôi. Xin đừng bố thí cho tôi một góc nhỏ khối vàng mà Người đang có !

Hỡi người tình không chân dung ! tôi chưa biết Người là ai ? Có thể Người là một Thiên Thần, chưa vướng bận đường tình duyên đang đợi chờ tôi từ kiếp trước. Cũng có thể Người là một góa phụ đang trên đường xui rủi, gãy gánh phu thê. Hay Người là một trang nhan sắc chẳng may đã lầm đường pháo nổ, bạc phận hồng nhan ?

Mà cho dẫu Người là ai , là ai chăng nữa , thì tôi cũng vẫn dang rộng đôi tay hân hoan đón tiếp Người về bằng trái tim yêu thương đời đời...kiếp kiếp...đến đá nát vàng phai...

Người ơi ! Người có nghe lời tôi nói không ? Sao người mãi lặng thinh ? Một tia ráng chiều cũng có thể thắp sáng lại hoàng hôn đó Người ! Hay chăng Người mót máy mãi mà không tìm đâu ra được chút hương thừa của Bá Nha - Tử Kỳ, của Thúy Kiều - Từ Hải để làm hành trang đi đến với tôi ?

Nếu quả thế thì tội nghiệp tôi biết mấy hỡi Người ! ! !

Tuyền Linh
    2004

Thứ Hai, 26 tháng 11, 2018

Trời Lạnh Ăn Bún Riêu



Trời lạnh ăn “bún riêu” ... nhớ lại những tô bún riêu ngày xưa!

Trên đường Võ Tánh cạnh xóm nhà tôi, gần chân cầu Bà Điều có quầy “Bún riêu Bà Cả” khá nổi tiếng trong xóm và các xóm lân cận. Mỗi buổi trưa, bà Cả dọn hàng trước cổng nhà ông Phán Nuôi là một nồi to đầy soup riêu cua với nhiều cà chua và dầu điều màu đỏ trông thật hấp dẫn! Gian hàng của bà là một cái bàn thấp, 4 hay 5 cái ghế gỗ trước bàn cho khách hàng ngồi, trên bàn được bày một thau rau muống chẻ, chanh, ớt, hành, ngò gai và hủ mắm tôm! Mùi bún riêu thơm phức không cầm lòng được một số nữ sinh của các trường trung học ở Vĩnh Long ! Các bạn tôi gồm Thu Nguyệt, Hồng Oanh, Xuân Hồng, tôi và một vài người bạn cũng không ngoại lệ. Thỉnh thoảng chúng tôi rủ nhau ghé lại “ủng hộ” bún riêu của bà.  Bà Cả là người Bắc di cư 54 nên món bún riêu của bà nấu theo kiểu truyền thống, không giống như bún riêu ngày nay là cho thêm giò heo, huyết heo, đậu hủ, …. tùy theo chế biến của người địa phương.

Nhớ lại năm 1972 tôi cùng gia đình đi Đà Lạt thăm một người chị và các cháu, gia đình chị ở chung nhà với bác sui gia! Sau những ngày chúng tôi đi tham quan thắng cảnh, bác sui gia và chị nấu một nồi bún riêu mời gia đình tôi, tuy là đang mùa hè nhưng trời lành lạnh được thưởng thức một tô bún riêu nóng, thơm ngon và cay! Thật tuyệt vời!!!

Tôi ngây thơ hỏi bác sui gia “Ở Đà lạt mình không có nhiều cua đồng như ở các tỉnh miền Tây thì làm sao bác nấu được riêu ?”.  Bác cho biết là bác dùng tôm khô ngâm nước cho mềm rồi bỏ vào cối băm nhuyển, sau đó cho riêu tôm vào tô hột vịt (hay hột gà) đánh tan, trộn đều rồi múc từng muồng nhẹ tay thả vào nồi soup đang sôi, riêu tôm quyện với hột vịt sẽ nổi lên! Nghe cách làm thật dễ dàng nhưng thời ấy tôi không có vô bếp nên không có cơ hội để làm thử nghiệm .

Năm 1980 gia đình tôi đến định cư ở một thị trấn nhỏ khá xa thành phố Toronto, thỉnh thoảng ông bà bảo trợ chở chúng tôi đi Toronto mua một ít thức ăn và gia vị trong các siêu thị Á Châu. Thời ấy, ở Chinatown chỉ toàn là đồ Tàu, chưa có hàng nhập từ Thailand nên chúng tôi thèm ăn bún riêu cũng không có nguyên liệu để nấu! Khoảng một năm sau thì gia đình tôi dời về Toronto sinh sống, thời gian khá lâu thành phố Toronto mới có vài ba siêu thị Vietnam. Hai chị em tôi thật vui khi thấy trên kệ tủ họ bày bán các hủ riêu cua và riêu tôm của Thái, có cả mắm tôm hiệu “Lee Kum Kee” được làm từ China. Tôi khá ngạc nhiên khi biết người Hoa ăn mắm tôm !!!

Thường vào mùa đông hai chị em tôi đi chợ mua nguyên liệu về nấu một nồi bún riêu cho cả nhà thưởng thức, cách nấu lúc ban đầu rất đơn giản, tôm khô nấu với nước soup và riêu cua của Thái! Sau nầy tôi thường làm theo cách nấu soup riêu của bác sui gia nhưng tôi cho thêm vào soup mộc heo trộn cọng hành băm, tiêu và nước mắm!

Tuy cách nấu của tôi không giống cách nấu truyền thống như bún riêu Bà Cả  nhưng ăn cũng khá ngon,  nhất là ăn bún riêu vào mùa lạnh!

Như Mai
24.11.2018



Thứ Hai, 2 tháng 7, 2018

"Cuộc ước hẹn trăm năm cùng mưa chan nắng gội"


1-
Tôi đếm mùa đi cùng cỏ cây hoa lá..Tôi đếm thời gian theo bóng nắng hiên nhà.

Tôi gửi tâm tư theo từng dòng chữ. Gửi niềm vui vào đôi mắt trong veo, bàn chân sáo nhỏ và những lời mộc mạc trẻ thơ.
Tôi giang tay ôm những đóa hoa đời dễ thương nầy, để lòng hớn hở đón chào ngày yên tịnh .

Tôi biết thời gian như cánh chim , nước một dòng không quay trở lại, sao vẫn muốn kéo thời gian ngược dòng ?

2-
Đêm về trong giấc mộng. Mơ thấy mình là mây. Lang thang bầu trời rộng. Tôi bay về phương bắc, tôi bay về phương tây . Phương đông phương nam tôi tìm tới. Bốn phương tám hướng bao la ...Không tìm đâu là nhà.

Trên cao cao tại thượng…Thiếu tiếng ve gọi mùa hạ về, nhưng nắng hôm nay rất trong, tôi tự hỏi có bao nhiêu giọt nắng và muôn năm nơi đây… nắng có phai màu?

Tiếng mưa từ chân trời xa vọng lại, êm êm , bình yên không hối hả . Nghe như tiếng thời gian.
Có đám mây nào đi qua bao giông bão đã tìm được chốn bình yên hay đã là mây thì cứ mặc cho gió cuốn ?

3-
Ngày đến rồi ngày đi… Quê người và những cánh đồng xanh mát dịu. Trăm nghìn kì hoa dị thảo, tôi chân trần nhảy nhót trên cánh đồng hoa.

Bao lần tự hứa với mình sẽ về lại quê hương , vì tôi biết có bao người mong đợi, nhưng sao tôi vẫn chưa về? Tôi muốn giữ quê hương trong tầm nhớ?

Con đường xưa chắc sẽ đẹp hơn. Hàng me bên đường những chiều lộng gió , vẫn thả đám mưa xanh, rồi cũng sẽ có người con gái miệng cười đưa tay hứng. Bỏ quên dòng đời tấp nập xung quanh…Như tôi ngày ấy !!

4-
Thả hồn theo dòng tâm tư. Ngày hạ. Tiếng chim hót vang trong vườn. Hoa vẫn cười với nắng . Nhớ quắt quay ảo ảnh đã xa…
Tháng bảy, mùa hạ về, trong không gian êm như mơ, tôi ghi vội những lời mộng mị.

Trầm Hương PTT



Chủ Nhật, 4 tháng 6, 2017

Mùa Xuân Xứ Lạnh



Khi nói đến Canada thì ai cũng biết quốc gia nầy là xứ tuyết lạnh và rất đẹp vào mùa đông! Cái lạnh kéo dài từ đầu tháng mười một cho đến tháng cuối tháng tư, đôi khi đến cuối tháng năm, tháng tháng giêng đến tháng tháng ba là những tháng lạnh nhất. có những lúc bão tuyêt nhiệt độ xuống thấp -20°C, đôi khi nhiệt độ xuống đến -30°C. Tội nghiệp cho những người di dân mới đến Canada còn chưa quen với thời tiết, dùng xe bus làm phương tiện di chuyển. Mỗi hừng sáng đi làm hay chiều tối về, đứng co ro đợi xe trong chiếc áo mùa đông kồng kềnh, tay mang đôi găng dầy và dấu kín trong túi áo cho đở lạnh. Nếu không may mắn thì trận bão tuyết kéo dài suốt ngày đêm .

Nhớ lại cách đây sáu năm, vào đầu tháng hai tôi cùng vài cô bạn đồng nghiệp đi Cali chơi, bên Canada đang là mùa đông,  năm ấy tuyết rơi nhiều và lạnh vô cùng, chúng tôi đều mặc áo mùa đông dầy và mang giầy boots nhưng  khi đến phi trường LA thì thời tiết mát lạnh dù là Cali cũng đang là mùa đông . Trên đường đi đến khách sạn, xe chạy ngang qua những dãy nhà phía sân trước có bãi cỏ và hàng cây xanh lá, hoa màu nở rộ, chúng tôi trầm trồ và có cùng chung một ý nghĩ “Ước gì Canada mình mùa đông ấm áp như Cali!”

Vì mùa đông Canada dài hơn mùa xuân, hạ và thu nên tôi tưng tiu từng giọt nắng rót xuống lòng phố và mảnh vườn nhỏ của nhà mình . Cuối tháng tư là cỏ và cây  bắt đầu đâm chồi sau những tháng ngày ẩn mình trong tuyết lạnh.  Đến tháng năm thì hoa Lilies, Tulips, Daffodil và nhiều loại hoa xuân vươn mình khoe sắc .

Lúc chúng tôi mới mua nhà, vợ chồng chủ nhà trước tôi là người gốc Ý, sau vườn ông bà trồng một giàn nho xanh và nho đen, hai loại nho dùng để làm rượu! Những năm đầu tiên, giàn nho say trái, thật thơm khi chín,  nhưng vì không biết làm rượu nên chúng tôi chỉ hái ăn lai rai và cho vài người bạn chung sở, nhưng vẫn không có cách nào xử lý hết giàn nho nên chúng tôi đành để rụng cho đến  cuối mùa! Tôi kể lại cho chị Hai tôi nghe, chị lấy làm tiếc nên chỉ tôi làm rượu nho theo cách Việt Nam là cho nho trộn chung với đường cát trắng. 

Trước đây tôi có xem qua film xưa của Ý, trong một đoạn film có chiếu cảnh mùa làm rượu nho, họ cho thật nhiều nho vào một chậu thật lớn, người trong gia đình hay người trong làng bước vào chậu dùng chân dẫm lên nho để cho ra nước trước khi cho vào các thùng rượu cất, để lâu năm. Không khí trông rất vui vì tiếng nhạc và tiếng cười vang  trong lúc “dancing” trên những chùm nho.

Lần đầu tiên tôi và cô em làm thử cách của chị Hai, khoảng tháng cuối tháng mười thì nho chín, chúng tôi bắt đầu hái rồi rửa từng chùm nho cho hết bụi, sau đó dùng đồ “mash potatoes” tức là dụng cụ nghiền khoai tây bằng tay, chị em tôi thay phiên nhau nghiền mấy chục ký nho trước khi trộn với đường, sau đó sang vào thùng đậy kín. Đến ba tháng sau thì nho lên men thành rượu, cho ra rât nhiều nước, kế đến là sang qua keo hay thùng được rửa sạch. Sau ba tháng kế tiêp thì nước nho trong vắt, chúng tôi sang qua từng chai rượu. Đến mùa Giáng Sinh năm sau thì tôi và em dùng làm quà cho gia đình và bạn chung sở, họ rất thích vì rượu nho chỉ làm bằng đường nhưng thơm và ngon .

Hai chị em tôi làm rượu được khoảng năm lần thì chúng tôi dẹp bỏ giàn nho vì quá cực và không có nhiều thời gian rảnh rỗi. Bây giờ nghỉ lại cũng tiếc nhưng cũng may chúng tôi vẫn còn giữ lại một bình rượu tính  đến nay cũng hơn 20 năm!

Khi bước vào mùa hè, vườn sau nhà có ba cây đào say quả và ngọt! Gia đình tôi lúc ấy chỉ có bốn người không thể nào ăn hết đào chín mọng trên cây, nên mỗi sáng tôi và cô em hái mang vào sở làm cho các cô bạn đồng nghiệp! Vui nhất là thấy sự ngạc nhiên và nụ cười tươi của họ khi thấy trên bàn có một nhánh đào xanh lá và đào chín thơm . 

Thời gian trôi qua, ba cây đào thay phiên chết dần! Vườn không cây trái nên ông xã tôi mua ba cây cherries về trồng . Sau vài năm các cây cherries bén rể và ra rất nhiều trái, thường đến tháng bảy là mùa thu hoạch . Bây giờ chỉ còn lại một cây sau 30 mươi năm chịu đựng trong nắng trong mưa và tuyết lạnh! Tuy trái không to như xưa nhưng vẫn ngot, có những năm trúng mùa cheiries, mỗi chiều sau khi cơm nước xong là tôi ra vườn bắt thang, leo cây hái những trái chín đến xập tối mới vô nhà. Có lúc chúng tôi hái được cũng gần 40 kg trên một cây . 







Vì ăn không ăn hết cherries nên ngày nào tôi cũng hái trái vừa hơi chín mang vào sở và chén muối ớt để mời bạn chung phòng cùng ăn. Cô bạn người Miến Điện rất thích món cherries chấm muối ớt, có một lần trong bửa cơm trưa cô hỏi tôi cho cô xin “Recipe muối ớt”! Sư ngây ngô dễ thương của cô làm các bạn ngồi chung bàn cười ngât . Sau nây, Mary Ann (là xếp của tôi) chỉ tôi cách làm mức cherry để dành ăn lâu dài, thành phẩm rất ngon vì ngoài đường cát thì tôi không cho hóa chất nào cả!



Tháng tư năm nầy, cây cherry sau vườn bắt đầu nức nụ, bước vào tháng năm thì bông trắng nở đầy cành, thật đẹp! Sau vài tuần, cánh hoa rụng đầy sân cỏ, treo lủng lẳng trên cây những trái cherries xanh non như trái trứng cá bên Việt Nam mình! Có lẽ năm nầy sẽ bị thất mùa vì từ tháng tư đến nay mưa nhiều, rất nhiều trái bị úng và rụng! Nhìn cây xanh lá thưa trái hơn các năm trước làm tôi nhớ đến mùa thu hoạch trong mùa cũ .




Bây giờ ngồi xem lại các tấm hình tôi chụp trong mùa cherries vào các năm trước trong lòng gợi chút niềm vui! Tôi nhớ lại chuyến về quê thăm gia đình năm 2015, nhà thơ Phong Tâm làm hai lồng trứng cá gởi tặng cô em Khúc Giang và tôi. Hai chị em của em xin cám ơn món quà quê hương từ nhà thơ Phong Tâm.

Hôm nay thứ bảy, trong vườn đầy nắng sau nhiều tuần mưa tầm tã và lạnh! Nhìn những giọt nắng long lanh trên cành lá cho tôi một niềm vui nho nhỏ và ấm lòng sau những ngày dài chờ đợi mùa đông đi qua . 

Yên Dạ Thảo


Thứ Bảy, 30 tháng 4, 2016

Một Chữ “Tình”


Gần hai tuần quanh quẩn trong nhà dưỡng bệnh, tôi miên man suy nghĩ về chuyện "Sinh lão bệnh tử" của một đời người và một chữ “Tình” ở trên thế gian nầy!  Buồn càng thêm buồn khi hồi ức quay về những ngày tháng đầu tiên tôi rời gia đình, xa quê hương.

Sau khi tốt nghiệp lớp 12, tôi lên Saigon học, nhà trường dùng một khách sạn làm nội trú cho học sinh. Các ngày đầu bận bịu với sinh hoạt, nội quy và làm quen bạn mới từ Nam ra Bắc được gom tụ lại trong cùng khóa học. Tôi và các bạn dường như không có thời gian để nghĩ đến chuyện nhớ nhà.

Đến ngày thứ bảy của tuần thứ ba, tôi cùng bảy người bạn đạp xe rảo một vòng Saigon, sau đó ra chợ Bến Thành dạo quanh chợ trước khi được Thanh Hương (người Mỹ Tho) dẫn cả bọn đi ăn bún bò Huế. Quán bún bình dân, nằm trong một hẻm nhỏ của thành phố nhưng đông khách. Mặc dù trời nóng bức nhưng đứa nào cũng vừa hít hà và vừa húp soup xì xụp  vì hương vị thơm ngon và cay nồng.

Trở về trường thì trời đã tối, 9 giờ là chúng tôi tắt đèn, vào giường nằm nhưng vẫn chưa ngủ! Chợt có tiếng hát của Thị Hoa (người Thủ Đức) từ góc phòng vọng ra , chúng tôi im lặng và lắng nghe cô bạn đang thổn thức hát bài “Lòng Mẹ”.  Phòng tối, giọng hát buồn cộng thêm ca từ về tình mẹ gợi đến nỗi nhớ nhà trong từng ngăn tim của các cô bạn và tôi. Tiếng hát đã dứt, tuy hay nhưng không một ai vỗ tay.  Có lẽ cũng như tôi, các bạn quay mặt vô tường, rưng rức khóc vì nhớ nhà!

Sau một tháng, trường cho chúng tôi nghỉ ngày thứ Sáu để về thăm gia đình, chiều thứ Năm là chúng tôi chia tay, chỉ có chị Mừng là không về,vì nhà chị ở tận Hưng Yên! Trưa ngày Chúa Nhật các bạn trở về trường đông đủ, mỗi chúng tôi ngoài việc mang gạo và đồ ăn (để lén nấu trong phòng) thì mang theo đặc sản của quê mình để chia nhau cùng ăn.

Trong thời gian này, có  lẽ vì ăn bo bo nhiều hơn ăn cơm nên bệnh bao tử của tôi ngày càng nặng (vì hai năm trước đó má giao làm mức khóm để ăn trong ngày Tết, trưa nắng ngồi khượi xác khóm, bỏ nước thì uổng nên tôi cho đường và nước đá vào nước khóm. Không gì tuyệt vời bằng khi được uống một ly nước trái cây thơm ngon ngọt vào buổi trưa nóng bức! ). Các bạn học thay phiên chăm sóc và nhiều lần đưa tôi đi bệnh viện. Từ những chia sẻ và lo lắng cho nhau trong những ngày xa gia đình, tình bạn của chúng tôi ngày thêm thắm thiết, tôi thấy thật ấm lòng trong những ngày sống xa nhà . 

Học chưa hết năm thứ nhì thì chị Hai lên Saigon đón tôi, em và cháu gái về nhà và âm thầm rời Việt Nam.

*****



Hành trang trên mình để đi Rạch Giá theo ghe ra khơi là một ít thuốc nhức đầu, thuốc đau bao tử, thuốc say sóng, dầu cù là, kẹo gừng, bao nhỏ thịt chà bông, hai bộ đồ và một sợi dây chuyền đeo cổ. Buổi sáng, chúng tôi bốn người rời bến xe và được người một người đàn bà ra đón, bà đưa chúng tôi vào căn nhà lá xụp xệ trong hẻm nhỏ gần bờ biển. Đến gần chiều, có người khác đến đưa chúng tôi vào một căn nhà khá lớn. Chúng tôi được họ mời cơm với món thịt kho, canh chua cá nhám chấm với nước mắm nguyên chất, tôi chưa bao giờ được ăn nước mắm ngon như thế! Trong bửa cơm, ông bà chủ nhà trò chuyện với chúng tôi rất cởi mở, tôi rất vui và có nhiều ấn tượng tốt cho các người dân miền biển này!

Hơn nửa khuya, chúng tôi được cho biết là đến giờ xuống ghe, bà chủ nhà bảo là sẽ cho  từng người lần lượt rời nhà, vì để tránh tai mắt của người trong xóm nên hành lý và nữ trang trong người phải để lại, họ sẽ cho người mang xuống ghe sau. Nghe lời, tất cả chúng tôi đều để lại đồ của mình trừ anh tôi còn giữ lại được sợi dây chuyền trong túi quần.

Người từ ghe nhỏ lần lượt được đưa ra ghe lớn, già trẻ bé lớn là bốn mươi bảy người, chúng tôi âm thầm ra khơi! Được nửa ngày thì cả tất cả người trong ghe mới biết là không một ai nhận lại được đồ của mình từ các nhà họ tạm trú trong ngày! 

Ghe chạy được vài tiếng còn trong lảnh hải Việt Nam thì ông tài công kêu mọi người xuống ghe và lội vô một đảo nhỏ xung quanh là cây tràm, ông bảo chúng tôi tạm trốn ở đó vì công an biển đang lùng bắt người vượt biên. Hơn nửa ngày mà không thấy bóng dáng của chiếc ghe đâu, thủy triều dâng cao hơn nửa người, trong nhóm không mấy người biết bơi, ai cũng lo sợ bị chết khi nước dâng ngập khỏi đầu! Đến gần chiều thì ghe trở lại và đưa chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình ... vô bờ bến! Hai ngày lênh đênh trên biển, chúng tôi được phát một vắt cơm nguội và chia nhau thau  nước cho mỗi buổi ăn sáng và chiều. 

Đến trưa ngày thứ ba, xa xa có một chiếc tàu dầu của Tây Đức, ông tài công lập tức quay hướng ghe và tiến thẳng về tàu! Thuyền trưởng kêu tàu dầu ngừng lại để ghe chúng tôi tiến lại gần cho được an toàn. Ông đầu bếp người Singapore làm thông dịch cho chúng tôi khi biết trên ghe có vài người Hoa. Ông giới thiệu, ông tên là Yan, ông cho biết thuyền trưởng nói rầng nếu máy của ghe còn tốt thì họ sẽ cho thêm dầu để ghe tiếp tục cuộc hành trình, nhưng nếu máy hư thì họ sẽ cho tất cả mọi người lên tàu dầu và ông sẽ liên lạc với Cao Ủy ở Thailand cho phép chúng tôi vào bờ. Riêng ông đầu bếp đề nghị (nói nhỏ) với chúng tôi là nên phá máy cho hư để được ông thuyền trưởng cứu lên tàu lớn, vì cướp biển đang lộng hành quanh vùng nên ông không biết người trên tàu sẽ sống chết ra sao trong các ngày tới!

Nghe lời, ông tài công khéo léo phá máy trước khi thợ máy trên tàu xuống kiểm soát, sau vài phút thợ máy xem xét kỹ lưỡng, ông cho biết là ghe không thể tiếp tục chạy được nữa! Thế rồi, chúng tôi được thuyền trưởng cho phép lên tàu lớn, được cho tắm rửa và ăn uống tử tế!

Sau ba ngày chờ đợi tin của Cao Ủy, chúng tôi được chấp nhận cho chuyển vào trại Songkhla – Thailand! Tôi nhớ mãi Yan, người đầu bếp Singapore đã nấu cho chúng tôi những bửa cơm ngon và buổi ăn sáng là món cháo cá bắt được gần dàn khoan dầu. Ngoài ra, ông bảo chúng tôi viết thư thông báo cho gia đình bên nhà biết tin bình an, khi lên bờ ông sẽ gởi thơ dùm.

Cám ơn Yan, cám ơn thuyền trưởng và các thủy thủ trên tàu đã cho tôi một “Tình người” vô giá!

*****



Đến trại tỵ nạn Songkhla, tôi thấy đông đảo người Việt đứng bên trong rào, xôn xao và nhìn ra ngoài cửa để tìm người thân hay bạn trong số người chúng tôi. Tuy biết  rằng không phải họ đón chào đón mình nhưng lòng tôi rất vui vì mình đến nơi bình an và có nhiều người đồng hương! 

May mắn, em tôi gặp được anh Thương, bạn học chung trường Đại Học ở Saigon, anh và vài người bạn ân cần mời anh em chúng tôi về ở chung lều với các anh vì các anh cũng sắp đi định cư. Trước khi theo các anh về lều, chúng tôi gặp được Nga và Hiệp cùng quê.  Nga học chung trường trung học với tôi, ba của Nga ngày xưa là một sĩ quan trong trại lính Công Binh gần nhà. Tuy trước đây học chung trường, nhưng chưa bao giờ Nga và tôi nói chuyện, bây giờ gặp lại nhau tay bắt mặt mừng! Sau đó Nga cho hai chị em quần áo lót, một ít đồ dùng và hướng dẫn nhà tắm, nhà vệ sinh trong trại. Vài ngày sau là vợ chồng Nga rời trại đi Canada.

Trong thời gian anh em tôi ở chung lều với các anh , chúng tôi thật vui! Hai chị em học làm cá, thổi lửa và nấu cơm từ anh Trung và anh Tín, các anh chỉ một ít tiếng Thái và cách xài tiền để đi chợ. Mỗi chiều cơm nước xong, anh Phương hay ngồi trước lều hát lại các bài nhạc xưa, anh hát hay nhất là bài “Bên Cầu Biên Giới”.

Đêm 30 Tết thật ảm đạm, nằm trong mùng nghe Duy Khánh hát “Xuân Này Con Không Về” được phát ra từ đài phát thanh của trại. Từng lời nhạc gợi cho tôi nỗi buồn xa xứ, nỗi nhớ  thương và lo lắng của má và sự cô đơn của má khi ăn Tết thiếu vắng ba đứa con. Tôi bật khóc nức nở!  

Tuy thời gian nầy cực khổ nhưng dường như nhiều người trong trại không ai lo nghĩ đến cái ăn, cái mặc vì có đã sự trợ giúp của Cao Ủy. Ngoài gạo, không cá mòi hộp thì cá biển tươi cũng lây lất sống tạm qua ngày. Lần lượt anh Thương, Trung, Tín, Phương, Long, Lan, Đức, Thiện.... cũng rời trại đi định cư ở Mỹ.  Mỗi lần đưa tiễn là một chầu cà phê tối ở một trong những quán nhỏ.  Bây giờ không biết các anh và các bạn sống ra sao. Hy vọng tất cả đều có cuộc sống tốt đẹp!

Một tháng sau, cháu tôi ở Canada nhận được thư do anh tôi nhờ ông Yan gửi trước đây. Cháu lập tức gởi cho chúng tôi 100 dollars. Mua sắm một ít đồ dùng cá nhân, em mua vài thước vải, khéo tay cắt và may từng mủi kim các bộ quần áo cho hai chị em. Tiền chi phí còn lại chút đỉnh, cộng với số tiền bán sợi dây chuyền , anh tôi sang lại một quầy cà phê nhỏ trong trại để xoay sở chờ đến ngày đi định cư.

Ba anh em thay phiên nhau ra quán bán từ sáng cho đến chiều. Tối đến, anh ôm chiếc chiếu ra quán ngủ để coi chừng bàn ghế và đồ. Đêm nghe tiếng sóng vỗ rì rào nhưng càng về khuuya thì gió biển càng lạnh, một lần hai chị tôi nhìn thấy được cảnh anh cuộn tròn trong chiếc chiếu nằm ngủ trên một tấm ván trước quầy, hai chị em thật đau lòng khi nhìn thấy anh say giấc vì mệt mỏi. Mỗi khi nghỉ đến thì thấy thương anh mình nhiều hơn!

*****

Vào một buổi sáng, đang đứng pha cà phê ở quán, bỗng dưng tôi bị ngã quỵ, bụng đau như cắt, hoàn toàn mất hết sức lực! Tôi được anh và vài người quen dìu về lều để nghĩ ngơi, nhưng bụng càng lúc càng đau, tôi không còn chịu đựng được cơn đau  nữa! Biết là bệnh bao tử lúc trước nay trở nặng, em tôi nhờ người quen cùng đưa tôi đến trạm y tế của trại, sau khi bác sĩ người Pháp khám bệnh, ông lập tức chuyền nước biển cho tôi để giảm đau và cho thêm một chai để dùng khi chai kia hết vào buổi tối. Ông bảo chúng tôi chờ đến sáng hôm sau để biết sự quyết định của Cao Ủy về chi phi cho tôi vào bệnh viện điều trị .

Hơn nửa khuya, chai nước biển đã cạn, em tôi nhờ bác sĩ trực người Việt chuyền tiếp chai thứ hai cho tôi . Sáng hôm sau, hòan tất thủ tục tạm xuất trại, tôi được bác sĩ đưa tôi vào một bệnh viện lớn ở Songkhla. Tôi tỉnh dậy sau gần hai ngày trời nằm mê mang từ cuộc giải phẩu lớn. Nhìn xung quanh không một bóng người thân, toàn thân là dây nhợ, tôi mơ hồ nhớ lại chuyện xảy ra trong các ngày qua, chợt dòng nước mắt buồn tủi chảy dài trên má! Thêm là nỗi lo lắng không biết là anh và em đã đi định cư chưa, bác sĩ có bỏ quên mình không! Gần một tháng sau tôi mới được bác sĩ đến bệnh viện rước đưa về trại. 

Nhớ nhất là thời gian nầy, tôi không được ăn uống, sống và hồi phục sức khỏe bằng nước biển và thuốc. Khi được xuống giường để đi lại quanh quẩng trong phòng tôi nhờ sự trợ giúp của các cô thiện nguyện viên. Nhớ đến thân nhân của người bệnh chung phòng, người thì cho cam nhưng tôi không ăn được, người kia thì đến lau mặt, lau tay cho tôi và thoa phấn thơm (dường như hiệu Johnson) trắng xóa cả mặt giống như con của họ. Bây giờ nghĩ lại, tôi thật  cảm động. 

Một điều làm tôi không ngăn được tiếng cười thầm mỗi khi nhớ đến là con đường nhỏ bên hong nhà thương, nơi có nhiều quán ăn, sáng trưa chiều tối đều đông nghẹt khách làm tôi nhớ nhiều về Sai gòn!  Từ của sổ phòng bệnh tôi hay nhìn xuống xem cảnh người xe qua lại trên đường và hàng quán tấp nập khách ăn uống. Tôi nhớ nhất là mùi thịt xiêng nướng thơm phức bay khắp vùng làm tôi không ngăn được sự thèm thuồng và mơ ước được ăn một ghim. 

*****

Bây giờ, ngồi nhớ lại câu nói của má trong đêm tiễn đưa "Má không biết quyết định cho con đi là việc đúng hay là sai?". Tôi không trả lời, chỉ biết nhìn người mà khóc!

Ba anh em tôi bước lên chiếc xe lôi của ông Ba Thông, đôi chân rắn chắc nổi gân của ông chậm chạp đạp chiếc xe qua cầu, âm thầm đưa chúng tôi đến bến xe đi Rạch Giá.  Xe lăn bánh xa dần, xa dần... nhưng bóng má vẫn còn đứng bên kia cầu dõi mắt nhìn theo, nước mắt của hai chị em tôi  không ngừng rơi.

Vâng, quyết định của má là đúng, rất đúng má ạ! Bốn cây vàng đã cứu lại mạng sống của con trong chuyến đi nầy và cho con nhiều bài học quý giá, nhất là trắng đen tình người.

Con cám ơn má, cám ơn anh trai và cô em út cùng chia sẻ trong những tháng ngày khổ cực từ đó đến nay, cám ơn những người bạn tốt và cám ơn đời cho tôi nếm được những cay đắng, ngọt bùi của chữ "Tình"!

Yên Dạ Thảo
15/05/2014



Thứ Năm, 17 tháng 12, 2015

Nhớ Về Một Bạn Thơ

Tôi quen biết được cố thi sĩ  Đỗ Hữu Tài từ một người bạn chung lớp thời Trung Học, anh tên là Hào. Anh kể cho tôi biết hai anh quen nhau ở trại Pulau Bidong, sau khi rời đảo thì cả hai được định cư trên đất Mỹ nhưng khác tiểu bang, cho đến năm 2010 mới liên lạc được với nhau. Anh Hào kể cho tôi nghe tình trạng sức khỏe của anh Tài và cho biết anh bắt đầu làm thơ sau cơn bệnh ngặc nghèo. Anh lấy bút hiệu là Thế Thôi. 

Anh Hào  nhờ tôi giới thiệu thơ của  Đỗ Hữu Tài vào web trường của tôi, và nếu có thể thì xướng họa thơ hầu giúp anh Tài trải qua những ngày tháng buồn tẻ. Tôi cho anh Hào biết là tôi không còn gởi bài cho web trường của mình nữa! Nhưng tôi giới thiệu anh đến Kim Oanh,  cũng là bạn học cũ của chúng tôi. Oanh là Mod của web trường trong thời gian nầy!  

Vài tháng sau tìm được trang web VNTQ, tôi bắt đầu đăng thơ và xướng họa thơ với vài thi sĩ lạ! Có lẻ anh Hào báo cho anh Tài biết nên vào đầu tháng Tư năm 2011 thì tôi thấy trong Diễn Đàn của web nầy xuất hiện thơ của Đỗ Hữu Tài. Mỗi bài thơ của anh nhờ bạn đăng lên là tôi đều đọc, rất lấy làm thán phục nhưng chưa dám vào làm quen.  Cho đến cuối tháng 5 năm 2011 thì tôi đọc “ Bài Thơ Tôi” của anh, lúc đó tôi mới dám ghé vào chào hỏi và để bài thơ thứ nhất “Bài Thơ Anh” vào vườn thơ của Đỗ Hữu Tài.

Anh Tài rất vui khi thấy tôi qua vào vườn nhà anh và để lại bài thơ, anh viết:
- Tài rất vui khi đọc thơ của YDT mà bấy lâu nay đã chờ. Hào có nói vào nhà của YDT để trao đổi thơ...nhưng Tài ngại thơ mình “chưa đủ cân lượng '' nay thì đã được YDT mở cửa Tài sẽ vào thường nha!”.  

Thật sự người ngại là tôi, vì tôi bắt đầu làm thơ vào mùa thu năm 2009, thơ còn vụng về, chưa biết cách dụng từ để cho bài thơ của mình được mượt mà như những bài thơ của anh từ trước đến nay!
  
Có một lần trong Diễn Đàn tôi cho anh biết là tôi có đọc qua bài thơ “Quét Lá” của anh đã được đăng trong web LVD khoảng đầu năm 2011. Tôi rất thích nên yêu cầu anh đăng bài thơ nầy trong Diễn Đàn VNTQ để chia sẻ cho các thi hữu cùng thưởng thức. Anh nói để tìm lại và đăng lên theo lời yêu cầu. Nhưng vài ngày sau anh cho biết là không tìm được bài thơ nầy, tôi phải vào web LVD tìm lại rồi cho anh biết tên bài thơ là “Cạnh Nhà” chứ không phải “Quét Lá”! Thời gian sau tôi nhờ cô Hương Nam diễn ngâm bài thơ dùm, giọng ngâm của cô nghe khá ngọt ngào, anh rất thích! 


Vài tháng sau anh gởi tặng tôi năm tập thơ “Có Những Đêm”, đọc lời giới thiệu và thấy hình anh ngậm viết để làm thơ đã làm tôi không cầm được nước mắt. Tôi đâu ngờ anh Tài bệnh nhiều đến thế!

Chúng tôi bắt đầu liên lạc bằng emails, mỗi ngày tôi viết thơ thăm hỏi anh, riêng anh thì thường khoe bửa nay được ăn trưa món gì, có lần tôi bật cười lớn khi đọc email của anh (thường emails of anh không bỏ dấu):
- Bua nay Tai đuoc an my Y…. NGAN...! Het gio roi, thoi Tai dọt …. !
Có lần tôi hỏi anh trên phone:
- Anh Tài ơi, bật mí cho YDT biết làm sao để có một bụng thơ như anh?
Anh trả lời:
- Điểm tâm buổi sáng của Tài là ăn thơ đó YDT!
Có những lúc thấy tôi vắng trong Diễn Đàn thì email thăm hỏi:
- YDT oi, co khỏe hay chuyen gi khong ma khong thay post tho moi len vậy?
Trong thời gian đó tôi khá bận nên không làm thơ, viết vội vài hàng:
- Hồn thơ của YDT bị đi lạc nên không ra được bài thơ nào cả!

Suốt ba năm trước đây dường như tuần nào thơ tôi ra là có thơ anh hoạ lại! Tôi thầm phục anh vì anh họa thơ hay cảm tác với các nàng thơ rất nhanh.

Có một lần tôi viết email cho anh hay là tôi vừa đăng bài thơ mới trong VNTQ, mời anh qua vườn YDT đọc cho vui. Anh trả lời ngay:
- Đe Tai “CHAY” vao vuon cua YDT xem!

Câu trả lời của anh làm tôi cười không ngớt khi hình dung cảnh anh ấy tất bật chạy qua vườn mình để đọc thơ! Thật sự tôi cũng biết thời khóa biểu của anh là đâu vào đó! Ăn cơm trưa xong là y tá cho anh nằm sấp hai tiếng để lưng không bị lở.  Anh cho biết là trong thời gian nầy là anh suy nghỉ để họa thơ từ các nàng thơ trong các Diễn Đàn anh quen biết.

Mùa Giáng Sinh đến và cũng là sinh nhật anh là ngày 17 tháng 12,  anh kể mùa này là anh vui nhất trong năm, vì vừa Sinh nhật anh và vừa Giáng sinh. Anh khoe là mỗi năm anh nhận được nhiều thiệp chúc mừng và quà từ bạn bè khắp nơi,

Năm đầu tiên tôi gởi cho anh là hộp kẹo Chocolate và Birthday card. Ngạc nhiên và vui, anh viết:
- Nam nay Tai nhân đuoc them mon qua tu Co Lang Gieng! Hi hi…

Sinh nhật năm kế tiếp tôi cũng gởi anh chocolate, đến mùa Trung Thu thì nhờ cô bạn làm bánh trung thu gởi cho anh, anh nhờ làm đặc biệt mỗi bánh phải có hai hột vịt muối.  Hai năm sau, anh bảo tôi đừng gởi hai món ngọt nầy vì anh bắt đầu cử ngọt. Có chút ngạc nhiên nên tôi hỏi anh qua phone:
-  Anh bị tiểu đường?
Anh trả lời:
-  Tài dùng răng để ngậm đủa thần mà gỏ phím nên nha sĩ kêu phải giữ hàm răng cho tốt!

Câu trả lời của anh làm tôi giựt mình vì quên hẳn là anh gỏ phím bằng miệng.

Nhớ một lần anh tâm sự là trước lễ Giáng sinh thì Tài có một số ở bạn gần đến thăm, phòng Tài rất rộn rịp trong những ngày nầy, nhưng sau đó thì vắng và buồn lạnh vì ai cũng quanh quẩng cùng gia đình….Tài thì trong phòng nhìn tuyết! Từ nghe được tâm sự của anh, tôi bắt đầu gởi DVD Paris By Nigh, Asia để anh xem trong những ngày lễ nầy! Sau đó tôi nói với anh khi nào muốn xem nhạc gì thì nói cho YDT mua gởi qua, anh nói: 
- Nếu vậy thì Tài sẽ rất tự nhiên à nha! Hi hi…

Thời gian thấm thoát cũng hơn bốn năm rồi! Tôi quen dần nhận và xem emails của anh gởi trong những giờ ăn cơm trưa của mình, dường anh có sắp xếp thời khóa biểu cho mỗi nàng thơ!

Đột nhiên có khoảng thời gian vắng bặt thơ Đỗ Hữu Tài trong diễn đàn của VNTQ, tôi không biết ai để hỏi thăm. Vài tháng sau thì tôi nhận được email của anh:
- YDT oi, Tai ve roi!
Tôi mừng và hỏi:
- Anh đi đâu mà về rồi?
- Tài o benh vien ve, bac si chua cho phep ngoi go phim nen khong lam gi duoc ca!
- Anh Tài làm YDT hết hồn!

Đọc được email của anh tôi thấy nhẹ nhỏm vì tưởng….

Thời gian sau nầy, mỗi lần có thơ được phổ nhạc và được làm youtube hay thơ được diễn ngâm là anh gởi link cho nhóm chúng tôi vào xem.  Tôi viết chọc anh:
- Anh Tài “KHOE” hoài làm cho YDT ganh tỵ đó nhen!
Anh trả lời:
- Co ma khong khoe… se lam Tai rat kho chiu! Hi hi…

Những emails của anh và tôi qua lại trong giờ cơm trưa thế mà hơn bốn năm rồi! Tôi rất vui và có lẻ anh cũng thế!

Cuối tháng chín vừa qua,  từ Việt Nam trở về thì ba ngày sau Kim Oanh báo cho tôi hay là anh Tài qua đời! Tôi sửng sốt,  ngồi nói chuyện với Oanh mà tôi nghẹn ngào, không cầm được nước mắt. 

Sau ngày anh qua đời, ngồi làm việc mà tôi luôn nhìn đến cell phone trên bàn, nhớ lại những emails sau giờ cơm trưa, những lời thơ viết qua lại ... làm cho lòng tôi buồn vui lẫn lộn! 

Giáng Sinh năm nay vắng bóng và tiếng thơ của “anh hàng xóm”, vườn thơ của “Cô Láng Giềng” cũng vắng lạnh, anh có biết?

Yên Dạ Thảo
16/12/2015